Chân dung các bậc tiền bối cách mạng trong thời thuộc Pháp (NXB Anh Minh – Huế)

Thẻ

, ,

Những ảnh sau được cung cấp bởi trang nhà FB của Luật sư Nguyễn Văn Miếng. Trân trọng cảm ơn!

15826662_1121286727970482_2849146713593988963_n

Cụ SÀO NAM PHAN BỘI CHÂU. Ngày ốm nặng, lưu biệt toàn quốc đồng bào – ảnh Cụ cho một thanh niên Quảng Nam đến hầu cụ trước ngày lâm chung -Chữ đề trong ảnh của người thư ký riêng cụ.

15826174_1121286607970494_3380097695811584806_n

Cụ SÀO NAM PHAN BỘI CHÂU.Lơ lững trên cảnh sông Hương.

15825846_1121287537970401_3517738931416467149_n

Cụ Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng. Sau 10 năm chủ trương tờ báo Tiếng Dân tại Huế (1937)

15823550_1121286667970488_5221596631107820104_n

Cụ Sào Nam Phan Bội Châu. Ngồi giảng sách cho đàn hậu tấn.

15823143_1121287414637080_614995498089527860_n15822876_1121287311303757_4384940665499969791_n

Cụ Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng. Ngày mới ra làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Tiếng Dân ở Huế năm 1927 (10 tháng 8).

15822773_1121286541303834_6230390340527045951_n

Sào Nam Phan Bội Châu. Ngày thực dân tha về giam lỏng ở Huế.

15822736_1121286431303845_4988186049987699662_n

Sào Nam Phan Bội Châu, năm 45 tuổi, ảnh chụp tại Quảng Châu ở Tàu năm 1912.

15822663_1121287444637077_2310123092500114670_n

Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng ngồi với Tập Xuyên Ngô Đức Kếnăm 1928.

15781731_1121287157970439_6790865365245417258_n

Tây Hồ Phan Châu Trinh. Ngày gần về nước.

15781694_1121287387970416_1407007443887079028_n15781185_1121287021303786_823436299208110674_n

Tây Hồ Phan Châu Trinh. Sau khi ra khỏi ngục Santé (Paris) năm 1915 (Ảnh chụp chung với cậu Trưởng nam Phan Châu Dật).

15781023_1121286484637173_5277148114842307476_n

SÀO NAM PHAN BỘI CHÂU. Bị thực dân bắt ở Thượng Hải giải về giam tại nhà pha Hỏa lò (Hà Nội) năm 1925.

15747461_1121287264637095_7635537954599197293_n

Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng, bị tù tại đảo Côn lôn 13 năm, từ năm 1908 đến 1922, được tha về nhà (47 tuổi).

15727296_1121286891303799_2057863041158642079_n

MỘT DU HỌC SINH CỦA CỤ SÀO NAM TRONG CUỘC ĐÔNG DU. Trên 200 du học sinh do cụ Sào Nam đem xuất dương, đây là một. Du học sinh này học tại trường Cao đẳng Sư phạm Đông kinh (Nhật) năm 1913.

15672880_1121289501303538_217127678351799994_n

Bà Trương Thị Dương. Nữ đồng chí của các cụ Trần Cao Vân, Thái Phiên…Bà đã bí mật dời di hài của hai nhà liệt sĩ Trần, Thái từ nơi lâm bịnh (cửa An Hòa) táng chung vào một nấm.

15740885_1121288697970285_6271232614160785847_n

Cụ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Theo lời kêu gọi của cụ Sào Nam, Tiên sinh xuất dương năm 1906, hoạt động cách mạng cho đến ngày cái quan (1952) trước sau như một.

15740992_1121289131303575_3381738550294708210_n

Cụ Phác Đình Nguyễn Thần Hiến. Quê Hà Tiên, đại biểu Nam Kỳ tại Hải ngoại trong cuộc Đông Du. Tiên sinh bị thực dân bắt tại Hương Cảng đem về giam tại nhà pha Hỏa Lò (Hà Nội), tự tử trong lao đúng ngày mồng một Tết âm lịch (1914)

15741210_1121289274636894_2749957662645130868_n

Cụ bà Phan Sào Nam. Sau ngày cụ Sào Nam  xuất dương, cụ bà chịu trăm đường cay đắng, đến ngày cụ ông về nước, gặp một giờ tại ga Vinh, chỉ nói một lời: “Mong sao Thầy giữ được chí xưa, chớ nghĩ gì đến mẹ con tôi.” Cho đến ngày lâm chung, dặn các con không nên cho cụ ông hay biết gì trước khi chôn cất!

15747814_1121288994636922_8523905015748139024_n

Cụ Nguyễn Hữu Tuệ. Tiên sinh làm bồi dưới tàu chạy đường Hải Phòng – Hương Cảng. Một đồng chí của cụ Sào Nam. Những thư tín tiền bạc liên lạc trong ngoài tự tay tiên sinh đảm nhiệm. Sau bị phát giác, chịu sự tra tấn cực hình, nhưng trước sau một lòng, bị đày lên Sơn La hơn 9 năm. Năm 1938, cụ Sào Nam mời vào Huế chụp hình, có đề chữ trong ảnh.

15780663_1121289374636884_4630013475002957155_n

Cụ Ô – Gia – Đổ Đăng Tuyển. Đồng chí của cụ Sào Nam, bị tra tấn giam cầm khổ hình, nhưng thỉ chung như nhứt. Bị đày Lao Bảo và mất ngoài ấy sau một thời gian tuyệt thực.

15780921_1121289061303582_4849880864643624622_n

Cụ Nguyễn Hải Thần. Trong số thanh niên và chí sĩ theo lời kêu gọi của cụ Sào Nam, Cụ Nguyễn Hải Thần đã tỏ chí trong ngày về bạo động ở Bắc Kỳ năm 1913:

“Thành tam thập tải bình sinh chí,

Phát tứ thiên niên lịch sử quang.”

15781636_1121288567970298_2717192048657860552_n

NHÀ VUA CÁCH MẠNG: DUY TÂN. Ảnh chụp có thủ bút của Ngài tại đảo Réunion (nơi bị đày) gởi về cho gia đình năm 1936: “A mes parents mes souhaits pour l’année 1936”.

15822966_1121289424636879_2045652906924210135_n

Cụ cả THỢ GIÀY AN HÒA. Thân phụ cụ Trúc Khê Võ Bá Hạp, người ta thường gọi “Cụ cả thợ giày An Hòa,” Tiên sinh nuôi cụ Sào Nam trong nhà cho con học và bí mật nuôi dưỡng, chôn cất cụ Tăng Bạt Hổ năm 1907.

15823121_1121288637970291_7601524087245635746_n

CỤ NGUYỄN THƯỢNG HIỀN. Theo lời kêu gọi cụ Sào Nam, Tiên sinh xuất dương làm đại biểu Bắc Kỳ trong cuộc Đông Du. Tiên sinh đã tỏ chí :

“Cơm xào thịt giặc mới ngon,

Bát canh chan giọt máu thù mới cam!”

15825929_1121289207970234_692464302983309604_n

Cụ PHAN VĂN TRƯỜNG. Du học Âu Châu về, nhà luật sư chí sĩ chủ trương tờ “L’ANNAM”, cực lực đề xướng Dân quyền , 2 cảnh vườn của cụ Sào Nam phần nhiều nhờ công cổ động của tiên sinh góp tiền tạo được.

15826439_1121288757970279_2330428885262310062_n

Cụ TIỂU LA NGUYỄN THÀNH. Một cựu đảng Cần Vương sống sót, gần 20 năm co mình tại quê nhà (Quảng Nam), chủ mưu cuộc Đông Du của cụ Sào Nam, bị đày Côn Lôn và mất ngoài đảo.

15826673_1121288814636940_7787813988204107549_n

Cụ LƯƠNG VĂN CAN. Rất nhiệt thành trong cuộc Đông Du và duy tân nước nhà tiên sinh trải bao tù tội. Cụ LƯƠNG NGỌC QUYẾN (Lương Lập Nham) vị chủ mưu “lấy thành Thái Nguyên được 7 ngày” là tiếu tử của tiên sinh.

15826741_1121288897970265_3156848559668868460_n

Cụ LÂM NGU LÊ VĂN HUÂN. Sau khi ở Côn Lôn về, tiên sinh ra làm dân biểu Trung Kỳ rồi từ chức. Năm 1929, bị bắt giam tại lao Vinh (Nghệ An), tự tử trong lao.

[Sách mới] Điêu khắc Thần Vishnu và Shiva trong văn hóa Đông Nam Á

Thẻ

, , , , ,

Quyển sách Điêu khắc Thần Vishnu và Shiva trong văn hóa Đông Nam Á hình thành từ luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học của TS. Phan Anh Tú.  Đây là sách chuyên khảo hình thành từ luận án, có bổ sung, sửa chữa. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM cũng đã tiến hành các thủ tục mời chuyên gia đọc thẩm định độc lập theo quy trình xuất bản sách chuyên khảo và đã nhận được những phản hồi tích cực.

fb_img_1481125543214

 

Những kết quả nổi bật của công trình nghiên cứu này là việc giải mã ý nghĩa văn hóa, khảo cứu các sưu tậpvà hiện vật tiêu biểu có nguồn gốc từ các vương quốc cổ ở Việt Nam, Campuchia, Indonesia và Thái Lan cùng với việc tham khảo thành tựu của những công trình trước tác. Tất cả đã giúp tác giả hoàn thành công trình nghiên cứu mà bạn đọc đang có trong tay.

Trong công trình này, tác giả đã thành công trong việc miêu tả chi tiết, đầy đủ các chủ đề, khía cạnh liên quan đến thần Vishnu và Shiva dưới nhiều góc độ (mà quan trọng hơn cả là nghệ thuật điêu khắc và ý nghĩa tôn giáo), những ảnh hưởng của hai vị thần này trong lịch sử nghệ thuật, văn hóa của các quốc gia Đông Nam Á. Đồng thời phân tích mối quan hệ giao lưu giữa các trung tâm văn hóa với nhau . Từ đó, tác giả nêu lên nhận định của mình nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa văn hóa của hình tượng thần Vishnu và Shiva. Qua sự miêu tả chân thực và khách quan, cùng với nguồn tư liệu dồi dào, người đọc có những hiểu biết chi tiết với những đặc điểm về chủ đề, chất liệu, phong cách, ý nghĩa tôn giáo, văn hóa của điêu khắc thần Vishnu và Shiva cũng như các nhân vật, hiện vật gắn liền với họ ở một số quốc gia Đông Nam Á cụ thể.

Từ các hiện vật điêu khắc, tác giả mở rộng biên độ phân tích, so sánh về đời sống của cư dân Đông Nam Á, thông qua việc nhận diện quá trình tiếp nhận và chuyển đổi hình tượng thần Vishnu và Shiva theo nhận thức riêng của từng tộc người và từng bối cảnh lịch sử dựa trên nền tảng của văn hóa bản địa. Theo tác giả, đặc điểm của kiến trúc Vishnu và Shiva giáo luôn phải xây dựng theo mẫu hình vũ trụ luận mà ở Đông Nam Á nó lấy cảnh quan môi trường bản địa làm tiêu chí như ngọn núi/đồi, dòng sông, biển, hồ nước, con suối và cánh đồng. Tuy có sự thay đổi hình tượng linh vật, vật biểu tượng và trang phục của thần Vishnu và Shiva, hay khuôn mặt thần linh theo nhân chủng bản địa của từng tộc người nhưng hình tượng thần Vishnu và Shiva về cơ bản vẫn tuân thủ những nguyên tắc tạc tượng kinh điển theo sách Shilpashatra của Ấn Độ khi thể hiện các dấu hiệu riêng của thần, vật cưỡi và bảo vật cầm tay. Mặc dù có sự khác biệt ở thời điểm tiếp nhận tôn giáo Ấn Độ của các quốc gia Đông Nam Á nhưng tất cả đều phản ánh nét tương đồng trong điêu khắc. Hầu hết các tác phẩm điêu khắc về Vishnu và Shiva ở Đông Nam Á đều lấy cảm hứng từ đề tài thần thoại và truyền thuyết Bà La Môn giáo. Tượng Vishnu và Shiva trong điêu khắc Đông Nam Á thường phản ánh quan niệm triết học Ấn Độ, trong đó Vishnu và Shiva là những vị thần hiện thân cho Đại vũ trụ.

 

 

 

 

Một số phong cách tượng Bà La Môn giáo trong luận án

Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ ra trong nghệ thuật Đông Nam Á, mối quan hệ giữa tượng Vishnu, Shiva với ngôi đền luôn gắn bó mật thiết, khắng khít và không thể tách rời nhau. Ngoài yếu tố thẩm mỹ, tượng thần còn làm tăng thêm tính thiêng liêng cho ngôi đền, thể hiện chức năng giáo dục và củng cố niềm tin tôn giáo cho các tín đồ. Những tác phẩm điêu khắc thần Vishnu và Shiva trên đã thể hiện tài năng, trí tuệ, sự sáng tạo mang bản sắc của cư dân bản địa Đông Nam Á.

 

 

 

Một số kiến trúc, đền đài được thể hiện

Chúng tôi cũng xin lưu ý bạn đọc rằng đây là sách chuyên khảo, phản ánh quan điểm của tác giả vốn là người nghiên cứu lâu năm trong lĩnh vực văn hóa Đông Nam Á. Chính vì vậy, cuốn sách này phù hợp cho những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy trong các trường đại học, viện nghiên cứu hoặc tự nghiên cứu. Rất mong bạn đọc tiếp nhận công trình nghiên cứu này trong tinh thần khoa học, khách quan và có những góp ý đối với tác giả.

Mục lục sách:

fb_img_1481125521412fb_img_1481125529368fb_img_1481125534777

 

Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Nguồn: Phòng Quản lý Khoa học – Dự Án (8/12/2016)

70 NĂM NHÌN LẠI CUỘC KHUYẾN NÔNG NĂM 1945 CỦA ÔNG HUỲNH PHÚ SỔ

Thẻ

, , , ,

Ông Huỳnh Phú Sổ (1920-1947), người duy nhất khai sáng, và giáo chủ nền Đạo Phật giáo Hòa Hảo (PGHH) khi mới 20 tuổi. Một nhân vật lịch sử cận hiện đại, và là một người yêu nước chân thành, nhưng do phải hoạt động trong những điều kiện lịch sử vô cùng phức tạp của giai đoạn đầu kháng Pháp (1939-1947) nên đã phải chịu một số điều dị nghị và hiểu lầm. Ngoài hoạt động tôn giáo, ông còn tham gia hoạt động chính trị nhằm mưu cầu giải phóng dân tộc, và tâm sự thầm kín đó của ông cũng từng được thổ lộ, qua sự ghi nhận của tác giả quyển Kết Thúc cuộc chiến tranh 30 năm:“Tôi là một người yêu nước. Tôi không chịu được cảnh Tây chiếm đoạt đất nước mình, đè đầu đè cổ dân mình.”(Trần Văn Trà, Tập V, NXB Văn Nghệ TPHCM, 1982, tr.307). Nhân dịp 70 năm hoạt động khuyến nông tại Nam bộ của ông, một công việc cũng từng gây nên không ít ý kiến đánh giá khác nhau trong những người ngoại đạo, chúng tôi muốn trình bày lại vấn đề này một cách tỏ tường hơn để chúng ta ngày nay có được cái nhìn khách quan hơn đối với một vấn đề lịch sử liên quan nạn đói năm Ất dậu-1945 ở hai miền Trung, Bắc.
Như chúng ta đều biết, nạn đói năm Ất dậu-1945 xảy ra 70 năm về trước đã làm chết khoảng 2 triệu đồng bào miền Bắc, Trung. Nhiều nhất là đồng bào miền Bắc, có xã chết đến 2/3 dân số, nhiều nơi cả làng bỏ đi tha phương. Nạn đói bắt đầu diễn ra từ tháng 10/1944 kéo dài đến giữa năm 1945, thời gian mà thực dân Pháp đang cai trị nước ta và phát-xít Nhật đang lăm le thay chân người Pháp.
Ở miền Nam, tình hình lương thực lúc bấy giờ, lúa gạo dồi dào nhưng không thể vận chuyển cứu trợ cho Bắc, Trung vì Chiến tranh thế giới thứ 2 đang hồi quyết liệt và chuẩn bị kết thúc. Quân Đồng Minh phá hủy các trục đường sắt từ Huế trở ra, phong tỏa đường biển khiến hàng hóa không lưu thông được để cứu đói. Trong khi đó số lúa gạo dư thừa tại miền Nam lại không thể xuất khẩu đi được, làm cho giá cả trở nên rẻ mạt, thậm chí người ta còn dùng lúa thay than để chạy xe, máy phát điện… Ngược lại, giá hàng hóa ngoại quốc trở nên đắt đỏ, lại thêm có kẻ xấu phao tin đồn “tận thế”, làm cho nhà nông nản lòng, bỏ hoang đồng ruộng. Bài “Đính chánh”[1] ngắn gọn bằng văn vần của ông Huỳnh viết lối tháng tư năm Ất dậu (1945, trước khi đi khuyến nông) sau đây cho ta hình dung khá rõ thực trạng kinh tế-xã hội rối rắm lúc bấy giờ:
Gần đây có kẻ ngoa truyền
Một bài sấm ngữ nơi miền Hậu Giang
Nói rằng: tháng tám tai nàn
Tối tăm trời đất, tang hoang cửa nhà
Kẻ gần rồi đến người xa
Từ trong thôn dã đến ra thị thành
Hại cho quốc kế dân sanh
Ruộng đồng tươi đẹp dân đành ngó lơ
Thương thay những kẻ ngu khờ
Lầm mưu gian trá ngẩn ngơ ưu sầu
Hỏi rằng: sấm bởi nơi đâu ?
Nói: “ông Hòa Hảo làm đầu truyền ra”
Buộc lòng tôi phải đính ngoa
Cho trong toàn quốc gần xa được tường
Chuyện ấy là chuyện hoang đường
Của bọn phá hoại chủ trương hại mình
Anh em ta hãy đồng tình
Nếu gặp “nắm óc” đem trình “công an”
Chúng ta giải quyết lẹ làng
Đừng để chuyện huyễn tràn lan ra nhiều.
Ngày 09/3/1945, Nhật đảo chánh Pháp. Người Nhật cũng nhận thấy viễn cảnh đói sẽ xảy ra ở miền Nam giống như ở Bắc, Trung. Để ổn định tình hình xã hội sau cuộc đảo chánh, Nhật đã yêu cầu ông Huỳnh đi về “vựa lúa” miền Tây để khuyến nông, vì biết ông có uy tín rất lớn với đồng bào ở đây. (Trước đó, năm 1942, ông Huỳnh được người Nhật giải cứu khỏi nơi câu lưu ở Bạc Liêu, lúc ông sắp bị người Pháp đày sang Lào). Trong thời gian tự do tạm trong sự bảo hộ của người Nhật, ông Huỳnh có nói lên lập trường của mình đối với người Nhật bằng hình thức câu đối mà ông đọc cho một số tín đồ thân tín nghe và sau đó đã được lưu truyền âm thầm trong các tín đồ PGHH:
“Trương Tiên tá Hớn phi thần Hớn, Quan Thánh cư Tào bất đế Tào.”[2]
Sau ngày Nhật đảo chánh Pháp, trong tín đồ PGHH và đồng bào miền Nam thường rỉ tai nhau lời tiên báo của ông Huỳnh: “Người Nhựt không ăn hết nửa con gà.”[3]
Trở lại cuộc khuyến nông của ông Huỳnh, người chuyên biên khảo văn sử miền Nam là ông Nguyễn Văn Hầu đã viết tóm tắt trong quyển Thất Sơn mầu nhiệm: “Trong vòng hai tháng, từ 10-6-1945 đến thượng tuần tháng 8 dl 1945, Đức Thầy diễn thuyết 107 chỗ. Số thính giả có nơi đến 10 ngàn người.”[4]
Dưới đây, những câu thơ trích đoạn bài thơ “Khuyến Nông” [5], có nội dung khuyến nông, cổ vũ việc cứu đói ông Huỳnh đã sáng tác lối tháng tư năm Ất dậu (1945) và luôn tuyên đọc trước khán, thính giả miền Tây trong các chuyến đi vận động:
“Hỡi đồng bào ! Hỡi đồng bào!
Thần chết đã tràn vào Trung Bắc,
Ngày lại ngày siết chặt giống nòi.
Lật qua các báo mà coi,
Thấy con số chết xem mòi kinh nguy.
(…) Muốn cứu khỏi tai nàn của nước,
No dạ dày là chước đầu tiên.
Nam Kỳ đâu phải sống riêng,
Mà còn cung cấp cho miền Bắc Trung.
(…) Điền chủ phải một lần chịu tốn,
Giúp áo quần, giúp vốn thêm lên.
Muốn cho dân được lòng bền,
Mua giùm canh cụ là nền khuếch trương.
Giá mướn phải thường thường dễ thở,
Xử ôn hòa niềm nở yêu nhau.
Cùng chung một giọt máu đào,
Phen nầy hiệp sức nâng cao nước nhà.
Kẻ phu tá cũng là trọng trách
Cứu giống nòi quét sạch non sông
(…) Chừng ấy mới hát ca vui vẻ,
Ai còn khinh là kẻ dân ngu.
Không đem được chút công phu,
Không đem sức lực đền bù nước non
(…) Nắm tay trở lại cánh đồng Cần lao,
nhẫn nại Lạc Long tổ truyền… ”
Dù qua đã 70 năm, nhưng khi đọc lại nhiều người còn xúc động qua lời văn trong sáng giản dị nhưng nồng nàn tình thiêng dân tộc, nhất là đề cao vai trò của người nông dân để gợi lên lòng yêu nước có sẵn trong họ, kêu gọi cả điền chủ lẫn nông phu nắm tay nhau trở lại cánh đồng Lạc Long tổ truyền…
Quả đúng như người Nhật dự tính, đồng bào và tín đồ PGHH miền Tây rất ủng hộ, kính mến ông Huỳnh: “Không bút mực nào tả nỗi sự hân hoan vô hạn của anh em tín đồ khi gặp Đức Thầy sau hơn 2 năm xa cách. Nhiều khải hoàn môn làm ở giữa đường và nhiều bàn hương án được đặt hai bên lộ để tỏ lòng tín đồ kính mến Thầy, còn hơn cuộc tiếp rước quan Toàn quyền đi kinh lý. Hai bên đường, anh em tín đồ nam phụ lão ấu đứng chờ cả buổi cả ngày để mong gặp mặt Đức Thầy đáng yêu đáng kính.” [6]
Dưới đây là lời nhận xét của thi sĩ Việt Châu Nguyễn Xuân Thiếp, người đã trực tiếp chứng kiến lúc ông Huỳnh đi khuyến nông: “Con người đó thật kỳ dị. Mỗi ngày ngồi xe hơi đi mấy trăm cây số, diễn thuyết hai ba nơi, mỗi nơi nói thao thao bất tuyệt trong hai ba giờ ở giữa trời, trước một đám đông nông dân hằng ngàn người, ai nấy im phăng phắc như nuốt từng lời một, có kẻ khóc mướt nữa. Có lần đương diễn thuyết thì trời đổ mưa, thầy Tư vẫn nói mà dân chúng vẫn đứng nghe dưới mưa. Lần nào diễn thuyết xong rồi cũng lên xe đi nơi khác liền, không thấy mệt nhọc, vẫn ung dung làm thơ mà ăn rất ít, toàn đồ chay. Sinh lực sao mà dồi dào thế! Sức lôi cuốn, thôi miên quần chúng sao mà mạnh thế.”[7]
Các nhà nghiên cứu PGHH cũng đã ghi nhận mục đích và lợi ích của cuộc khuyến nông: “Thừa cơ hội độc nhứt vô nhị nầy, Đức Thầy đi khắp miền Tây khuyến nông thuyết pháp, thâu nạp tín đồ” [8].
Tuy nhiên, cuộc khuyến nông kể trên của ông Huỳnh cũng từng bị hiểu lầm qua một vài ý kiến nhận định nghiêng lệch, thiếu khách quan, do chưa thấu tỏ mọi mặt của hiện tình phức tạp lúc bấy giờ, khi cho rằng nó chỉ nhằm mục đích phục vụ cho mưu đồ của Nhật: “Không những chỉ các lời tiên tri của Huỳnh Phú Sổ được sử dụng như một vũ khí tuyên truyền hữu hiệu cho quân đội Nhật, mà bản thân vị giáo chủ này còn được quân Nhật đưa đến một số nơi ở đồng bằng sông Cửu Long để kêu gọi, khuyến khích nông dân tích cực sản xuất lúa gạo phục vụ cho mục đích chiến tranh của Nhật” [9].
Chúng tôi, những hậu sinh cầu học lịch sử văn hóa giống nòi, mạo muội xin góp ý làm sáng tỏ vấn đề trên như sau. – Một, nhận định rằng “… lời tiên tri của Huỳnh Phú Sổ được sử dụng như một vũ khí tuyên truyền hữu hiệu cho quân đội Nhật,..”. Nếu đọc qua quyển Sấm giảng thi văn, ai cũng phải khách quan thừa nhận những điều Ông Huỳnh nói, viết không có lợi gì cho người Nhật, mà ông chỉ luôn hô hào kêu gọi đồng bào ruột thịt thương yêu nhau, và yêu quê hương xứ sở, ca ngợi tương lai Việt Nam vinh quang …. Một trong những bằng chứng cụ thể là lời tiên tri, như đã dẫn ở trên: “Người Nhựt không ăn hết nửa con gà.”. Và đây là bài mà chúng tôi đọc, thấy trong quyển Sấm giảng thi văn của ông, viết lối tháng tư năm Ất dậu (1945), trước khi đi khuyến nông. Ông Huỳnh đã mạnh dạng gióng lên “HỒI CHUÔNG CẢNH TỈNH NHỮNG KẺ TRÔNG TÂY, HẪNG-HỜ VỚI NẠN ĐÓI BẮC-KỲ ”[10] lúc bấy giờ, để lên án những kẻ buôn dân bán nước, không biết thương xót đồng bào bị chết đó, có đoạn như sau:
“Nam-kỳ có một lũ hề,
Mày râu nhẵn-nhụi chuyên nghề buôn dân.
Nhờ ơn Mẫu-quốc vinh thân,
Giờ toan mua tảo bán tần nữa sao?
Dửng-dưng trước nghĩa đồng-bào,
Đói cơm khát nước trông vào thống tâm.
Làm ngơ, giả điếc, giả câm,
Tay ôm hũ bạc, mắt đăm đăm chờ.
Vái rằng: “Mẫu-quốc gặp cơ”,
Trở qua Nam-Việt con thờ muôn năm. …….”
– Hai, nhận định rằng “… bản thân vị giáo chủ này còn được quân Nhật đưa đến một số nơi ở đồng bằng song Cửu Long để kêu gọi, khuyến khích nông dân tích cực sản xuất lúa gạo phục vụ cho mục đích chiến tranh của Nhật”.
Như trên đã nói, nạn đói lúc bấy giờ đang diễn ra ở Bắc, Trung nhưng nhiều khả năng cũng sẽ xảy ra tại miền Nam. Ông Huỳnh đã bỏ ra nhiều nỗ lực khuyến nông để giúp cho đồng bào Nam bộ thoát khỏi viễn cảnh bi đát này. Tuy mục đích của người Nhật nhờ ông Huỳnh là nhằm ổn định lương thực cho Nam bộ, để họ rảnh tay làm việc khác ở Đông Á, nhưng ông Huỳnh cũng biết tương kế tựu kế thực hiện mục đích tốt riêng của mình, như đã thố lộ trong bài thơ khuyến nông “Muốn cứu khỏi tai nàn của nước, No dạ dày là chước đầu tiên.” Theo quan niệm của ông Huỳnh, muốn đuổi ngoại xâm phải có con người mà con người phải no bụng. Còn xét về tình người với người, thấy đói sắp xảy ra, ai cũng xả thân tìm cách ngăn chặn hay cảnh báo cho đồng loại, huống chi ở đây là đồng bào mình.
Năm 1943, hai năm trước khi đi khuyến nông, và một năm sau khi được người Nhật cứu ông khỏi tay người Pháp, ông Huỳnh còn có làm bài thơ “Gọi đoàn thanh niên” [11], qua đó đưa ra nhận định khá rõ về người Nhật và người Pháp đối với Việt Nam:
(…) Nay chẳng lẽ ngồi coi thắng bại, Của cọp rồng trên dãy đất ta. Một khi cọp đã lìa nhà, Biết rồng có chịu buông tha chăng cùng? Vậy anh em phải chung lưng lại, Dùng sức mình đánh bại kẻ thù. …
Dò theo một ít sử liệu còn lưu lại: Đầu tháng 7-1945, Bà Nguyễn Thị Thập sắp đi dự hội nghị Tân Trào, trong hồi ký của bà có ghi: “Sở dĩ có đại diện Hòa Hảo cùng đi trong Đoàn vì trước đây, các đồng chí trong nhóm “Giải Phóng” hay gọi là “Việt Minh cũ” đã vận động, thuyết phục được Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Hòa Hảo đồng ý đem cả quần chúng, tổ chức của mình gia nhập vào Mặt trận Việt Minh để cùng đi cứu nước.”. [12]
Phải chăng trước khi đi khuyến nông, ông Huỳnh đã bí mật tham gia Mặt trận Việt Minh (cũ) rồi?
Cho nên, nhìn qua cuộc khuyến nông nầy, ta không thể chủ quan, định kiến đưa ra kết luận kiểu “format”: rằng ông Huỳnh theo Nhật hay chỉ biết làm công cụ cho người Nhật!
Ngẫm kỹ lại, đang lúc bị kẹp giữa hai thế lực ngoại bang hung hăng của “cọp (Pháp) rồng (Nhật) trên dãy đất ta…” mà có cơ hội lợi dụng sức gió của “rồng” để giương buồm cùng đưa con thuyền dân tộc Việt sớm vượt qua cơn bão chết đói thì lịch sử có nên trân trọng khuyên một dấu son? Hơn nữa nhìn lại công cuộc khuyến nông của ông Huỳnh, nếu không ích nước lợi dân thì cũng không gây ra bất kỳ hệ quả xấu gì đối với đất nước và dân tộc; trái lại tệ nhất thì cuộc khuyến nông với lời kêu gọi còn có hàm ý đoàn kết bảo tồn giống nòi “Nắm tay trở lại cánh đồng / Cần lao nhẫn nại Lạc Long tổ truyền…”, hay ít nhất cũng đã góp phần cho chính đồng bào, nông dân tại địa phương miền Nam không chịu cảnh chết đói như ở hai miền Bắc, Trung!
Để đánh giá một sự kiện, hay nhân vật chính xác hơn, chúng ta cần xét đến bối cảnh lịch sử cụ thể, cũng như quá trình của sự kiện liên quan đến nhân vật. Có nhận định chính xác công bằng rồi chúng ta mới đóng góp cho sự đoàn kết dân tộc, để cùng chung tay hướng tới tương lai. (*)
HỒNG AN, Tạp chí Xưa và Nay số 464, tháng 10 năm 2015, tr. 43-45.

[Việt-Trung] Diễn văn bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đọc tại phiên bế mạc Đại hội

Thẻ

, , ,

Thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội,
Thưa các vị khách quý,
Thưa các đồng chí đại biểu Đại hội,
Sau 9 ngày làm việc nghiêm túc, khẩn trương, dân chủ, với ý thức trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra và thành công tốt đẹp.
Đại hội đã thảo luận sôi nổi, dân chủ và nhất trí thông qua các văn kiện rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài đối với sự phát triển của đất nước ta : Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020, phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2011 – 2015 và Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi).
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm những đồng chí tiêu biểu cho trên 3,6 triệu đảng viên, có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực, trình độ và đạo đức để gánh vác những trọng trách nặng nề do Đảng và nhân dân giao phó.
Thưa Đại hội,
Các văn kiện được thông qua tại Đại hội lần này là sự tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn 20 năm thực hiện Cương lĩnh, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội (2001 – 2010) và 5 năm thực hiện phương hướng, nhiệm vụ kinh tế – xã hội (2006 – 2010), là sự kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta; là sự tiếp tục khẳng định, hoàn thiện và phát triển quan điểm, đường lối của Đảng ta theo tư tưởng đổi mới; xác định mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân tộc ta trong giai đoạn phát triển mới đầy triển vọng và không ít thách thức của cách mạng nước ta từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Sự thống nhất ý chí của Đại hội biểu thị quyết tâm sắt đá của Đảng ta, trong những năm tới, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
Để thực hiện mục tiêu cao cả đó, Đại hội đã thảo luận và thông qua những quvết sách trên tất cả các lĩnh vực cơ bản và trọng yếu của sự nghiệp phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc những năm tới. Những quyết sách trên giữ vai trò vô cùng quan trọng, có giá trị định hướng và chỉ đạo sâu sắc trong toàn bộ quá trình triển khai và tổ chức thực hiện trong thực tiễn phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước 5 năm, 10 năm và 20 năm tới.
Đại hội đã tập trung thảo luận và thông qua những nhiệm vụ to lớn nhằm tiếp tục chỉnh đốn, xây dựng và tự đổi mới Đảng với mục tiêu nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ, phẩm chất và đạo đức cách mạng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đại hội nhấn mạnh đến sự đoàn kết, thống nhất ý chí của toàn Đảng trên cơ sở Cương lĩnh và đường lối, quan điểm của Đảng, đến sự gắn bó mật thiết với giai cấp, với nhân dân lao động và dân tộc như là một phẩm chất cốt lõi nhất thể hiện bản chất và sức sống của Đảng. Để đảm bảo sự trong sạch và vững mạnh cũng như uy tín, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Đại hội nhận thức sâu sắc và thể hiện quyết tâm đẩy mạnh và có những giải pháp nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng và chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Đại hội đặc biệt coi trọng và nhấn mạnh trong các buổi thảo luận, trong các văn kiện nhiệm vụ to lớn cần kiên trì chỉ đạo việc thực thi và phát huy dân chủ trong Đảng, trong hệ thống chính trị và trong toàn xã hội, đảm bảo thực hiện bằng được tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Quyền hạn và lực lượng đều ở nơi dân”. Đại hội khẳng định rằng, trong những năm tới, nhiệm vụ xây dựng Đảng là nhân tố quyết định để giữ vững vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của Đảng, để Đảng thực sự xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.
Với những kết quả trên, chúng ta vui mừng báo cáo với toàn Đảng, toàn dân : Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công tốt đẹp.

Thưa Đại hội,

Tại Đại hội XI của Đảng, nhiều đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá X đã không ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, tạo điều kiện để trẻ hoá, bổ sung lực lượng mới vào cơ quan lãnh đạo của Đảng trong nhiệm kỳ mới. Đó là một nghĩa cử cao đẹp. Đại hội chân thành cảm ơn và đánh giá cao những cống hiến trong 5 năm qua của các đồng chí và xin chúc các đồng chí khoẻ mạnh, hạnh phúc, tiếp tục đóng góp tâm huyết, năng lực, kinh nghiệm của mình vào sự nghiệp vẻ vang của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Đại hội đã tiến hành nghiêm túc, đúng Điều lệ Đảng, sáng suốt lựa chọn và bầu các đồng chí đủ tiêu chuẩn, xứng đáng vào Ban Chấp hành Trung ương khoá XI :175 đồng chí Uỷ viên Trung ương chính thức và 25 đồng chí Uỷ viên Trung ương dự khuyết. Đại hội trao cho Ban Chấp hành Trung ương khoá mới trọng trách nặng nề trước Đảng, trước nhân dân, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI. Nhận rõ trách nhiệm to lớn đó trong giai đoạn mới với những thời cơ lớn và thách thức gay gắt, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI nguyện đem hết sức mình, toàn tâm toàn ý phụng sự đất nước và dân tộc, phục vụ nhân dân, phấn đấu không ngừng nâng cao năng lực, trình độ, bản lĩnh, phẩm chất đạo đức, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ to lớn đã được Đại hội xác định.

Thưa các đồng chí,

Đại hội nhiệt liệt hoan nghênh và trân trọng cảm ơn các đồng chí lão thành cách mạng, tổ chức đảng các cấp, các tổ chức, đoàn thể chính trị – xã hội, các nhân sĩ, văn nghệ sĩ, trí thức, các vị chức sắc tôn giáo, đồng chí, đồng bào, chiến sĩ cả nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài…, với ý thức trách nhiệm cao và tình cảm sâu sắc trước đất nước và dân tộc, đã chân thành, thẳng thắn đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm nhằm bổ sung, xây dựng các văn kiện Đại hội, góp phần vào thành công của Đại hội.

Đại hội xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc các đảng cộng sản và công nhân, các đảng cầm quyền của các nước, các tổ chức quốc tế… đã gửi điện chúc mừng Đại hội, biểu thị những tình cảm tốt đẹp, hữu nghị và đoàn kết đối với Đảng ta và nhân dân ta.

Đại hội đã nhận được nhiều thư, điện, chúc mừng đến từ mọi miền đất nước và của kiều bào ta ở nước ngoài. Xin chân thành cảm ơn những tình cảm tốt đẹp của đồng bào cả nước.

Đại hội nhiệt liệt hoan nghênh và chân thành cảm ơn các cơ quan thông tấn, báo chí trong và ngoài nước đã đến dự và kịp thời đưa tin về Đại hội.

Đại hội biểu dương và cảm ơn Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội XI của Đảng, toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức đã tận tuỵ làm tốt công tác phục vụ Đại hội, góp phần thiết thực vào thành công của Đại hội.

Thưa Đại hội,

Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tạo nên sức mạnh cổ vũ to lớn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt lên mọi khó khăn, thách thức, tranh thủ cơ hội mới, phấn đấu vì mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Ngay sau Đại hội, tất cả các tổ chức đảng cần tổ chức tốt việc nghiên cứu, quán triệt sâu sắc Nghị quyết, các văn kiện Đại hội, tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân về kết quả Đại hội; khẩn trương xây dựng, triển khai chương trình, kế hoạch hành động, đưa Nghị quyết vào cuộc sống, khơi dậy phong trào thi đua yêu nước sâu rộng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Đại hội nhiệt thành kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, đồng bào ta ở trong nước cũng như ở ngoài nước, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Với niềm tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh, ý chí của toàn Đảng, toàn dân tộc, vào tương lai của đất nước, tôi xin long trọng tuyên bố bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vinh quang đời đời thuộc về dân tộc Việt Nam văn hiến, anh hùng !

Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm !

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm !

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta !

Xin trân trọng cảm ơn.

 

——————————–

尊敬的大会主席团

尊敬的各位来宾

各位代表、同志们:

经过9天紧张、严肃、民主和富有高度责任感的工作,越南共产党第十一届全国人民代表大会已完成所提出的全部计划并获得圆满成功。

大会已激烈和民主地讨论并一致通过了对我国发展具有长期性、战略性意义的各项重要文件,其中包括:社会主义过渡时期国家建设纲领(2011年补充和发展);2011-2020年阶段社会经济发展战略,2011-2015年五年的方向和任务;党章(补充、修改)等。

大会已选出代表360万党员、满足品质、能力、水平以及道德标准的同志担负起党以及人民交付的历史重任。

尊敬的同志们!

本届大会通过的文件是在理论和实践方面上总结了20年落实《1991纲领》、2001—2010年阶段的10年经济及社会发展战略以及2006—2010年阶段的五年经济及社会方向和任务的落实经验。

大会的统一意志明显体现了我党在今后几年领导全党、全民和全军力争落实“继续提高党的领导能力和战斗力,发挥全民族的力量,全面推动革新事业,为到2020年我国基本成为现代化工业国家奠定基础”等目标钢铁般的决心。

为了落实这些崇高目标,大会讨论并通过了今后几年国家发展事业和祖国建设与保卫事业中的基本、关键领域中的决策。这些决策在今后五年、十年、二十年国家建设和保卫事业展开实践、组织及落实各项任务的过程中有着至关重要的作用并拥有巨大的定向和指导价值。

大会聚焦讨论并通过了要继续进行党的整顿、建设及革新事业以提高党的政治本领、智慧能力、革命品质和道德,使我党更加纯洁和坚强,继续巩固人民对党信心的艰巨任务。大会强调全党在党的纲领、路线和观点等基础上的团结和统一意志,以及党与各层人民、各族人民间的密切关系是最关键的品质,也最能体现党的品质和活力。为了确保政治体系的纯洁、坚强、信誉及其活动效果,大会已深刻认识到这一点,正决心致力推动并将出台提高政治体系中干部和党员的反贪污腐败、官僚、浪费、蜕化变质等战争中效果的措施。

大会在各次讨论会议和各项文件中特别重视并反复强调要坚持指导落实和发挥党、政治体系和整个社会中的民主的重大任务,确保能完全遵循胡志明主席思想:“权限和力量都在于人民”。大会肯定,今后几年的党建工作是保持党的领导作用和责任的决定因素,让党不愧为工人阶级的先锋队,同时是越南民族和劳动人民的先锋队,也是工人、劳动人民阶级及各族人民利益的忠诚代表。

以上述结果,我们高兴地向全党、全民报告:越南共产党第十一届全国代表大会已获得圆满成功。

尊敬的同志们!

在本届大会上,越共第十届中央委员会、政治局、书记处的许多同志不参选第十一届中央委员会,这是一个崇高的义举,为新一届领导班子的年轻化、注入“新的血液”提供便利条件。大会诚挚地感谢和高度评价您们5年来所做出的贡献,并祝各位同志身体健康、幸福,继续为我党、国家和人民的光辉事业献出自己的宝贵意见及智慧。

党十一大本着严肃和执行《党章》的精神,英明地挑选和选出具备好品质、能力强、高水平及良好道德等标准的包括175名正式中央委员和25名候补中央委员的越共第十一届中央委员会。大会将党和人民的重担交付给新一届的中央委员会,既领导全党和全国人民顺利落实党十一大决议。

明确在既具有大好机遇又面临着巨大挑战的新阶段中的重大责任,越共第十一届中央委员会承诺将用尽全力、全心全意地为国家、民族及人民服务,不断努力提高自身的能力、水平、本领和道德品质,与全党和全国人民一道下定决心顺利落实党十一大所确定的重大任务和目标。

尊敬的同志们!

大会谨向各革命老战士、各级党组织、各组织、政治及社会团体、人士、艺术家、知识分子、宗教界人士、全国同胞以及旅居国外的越南人等表示感谢,他们以对国家和全民族的责任感和爱国情坦率地提出珍贵的反馈意见,补充和修正大会各文件,为大会的成功作出贡献

大会谨向世界各国的共产党和工人党、执政党以及各国际组织表示感谢,他们已向本届大会致贺电,表示对我党和人民的友好感情、友谊之情和团结精神。

大会也接到全国各地和国外侨胞的书信和贺电,谨向全国同胞的深切之情表示感谢。

大会热烈欢迎和诚挚感谢国内外新闻媒体机关前来出席并及时报道大会的消息。

大会表彰并感谢党十一大服务小组委员会,全体干部、战士及工人、职员竭诚做好大会服务工作,为大会取得圆满成功做出切实贡献。

尊敬的各位与会代表

党十一大的成功召开,深深地鼓舞着党、国家和人民战胜一切困难挑战、把握新机遇、力争到2020年将我国基本建设成为现代化工业国家。会后,各党组织要组织好研究、贯彻落实好大会各项决议和文件的工作,将大会精神大力宣传到全党、全民中来;尽快策划、开展各项行动计划,把党大会决议落到实处,掀起在全党、全民和全军中的爱国运动风潮。

大会呼吁全党、国内和国外同胞积极发挥爱国精神、自强意志和全民族大团结力量,成功落实大会的决议,全面推动革新事业,推动国家快速和可持续发展,决心成功落实民富国强、民主、公平、文明以及稳步走向社会主义道路等目标。

怀着对党、国家和民族未来的深深信念,我宣布越南共产党第十一届全国代表大会正式闭幕。

光荣永远属于文献、英雄的越南民族!

越南社会主义共和国万岁!

伟大的胡志明主席永远与我们同在!

谢谢!

(据越南共产党电子报)